Trong tiến trình phát triển của mối quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia lại lựa chọn cho mình một phong cách ngoại giao riêng biệt vừa tạo nên sắc màu riêng, vừa khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Nếu như cựu Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt từng làm thế giới dậy sóng với phong cách ngoại giao “Cái gậy và củ cà rốt” đầy tính thực dụng, kết hợp giữa quyền lực cứng và sự thuyết phục khôn khéo, Thái Lan chọn hình ảnh “Ngoại giao cây sậy” mềm mại, uyển chuyển trước những biến động thời đại mà vẫn giữ được chủ quyền, Trung Quốc sử dụng thể thao “Ngoại giao bóng bàn” để phá vỡ rào cản chính trị thì Việt Nam nổi lên với phong cách “Ngoại giao cây tre” gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển giữa một rừng ngoại giao đầy hỗn loạn và phức tạp.
Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29, diễn ra từ ngày 22 đến ngày 26/8/2016, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến khái niệm ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng được tổ chức ngày 14/12/2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập sâu hơn, rõ nét hơn: “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Có thể nói lời khẳng định của nguyên Tổng Bí thư là sự đúc kết, kế thừa truyền thống ngoại giao của đất nước, kết hợp với phát huy tinh hoa nhân loại để hình thành nên một lối ngoại giao rất Việt Nam mà cũng rất thời đại. Tuy nhiên, bất chấp những thành tựu ngoại giao mà Đảng và nước ta đã đạt được, các đối tượng phản động, các phần tử xấu dưới danh nghĩa các “nhà dân chủ” vẫn không ngừng xuyên tạc, bóp méo, phủ định bằng các luận điệu ngoại giao cây tre Việt Nam chính là “ngoại giao đu dây”, “ngoại giao lỗi thời”, “bản sao chép ngoại giao của các nước khác”...
1. Vì sao lại là cây tre?
Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành một biểu tượng gần gũi, gắn bó sâu sắc với hình ảnh dân tộc Việt Nam. Từ truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc ngoại xâm đến hình ảnh lũy tre che chở xóm làng, tre không chỉ hiện diện trong đời sống vật chất mà còn in đậm trong tâm thức và văn hóa người Việt như biểu trưng của sự kiên cường, bền bỉ. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây tre đã gắn liền với đời sống và con người Việt Nam, bén rễ từ sâu trong lòng đất để trở thành biểu tượng bất khuất trong văn hóa và cốt cách Việt Nam.
Xét về đặc tính sinh học, cây tre có sức sống mãnh liệt, dẻo dai nhưng không kém phần cứng cáp. Tre có thể uốn cong trước gió mạnh mà không gãy, nhưng khi cần lại đủ vững chắc để chống chịu và vươn lên. Bộ rễ tre đan xen, liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống bền vững, giúp cả khóm tre cùng tồn tại và phát triển trước những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Cũng chính bởi đặc điểm gốc vững, thân cứng, cành uyển chuyển kết hợp với sức sống mãnh liệt đã hình thành nên trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” vừa mềm dẻo, vừa linh hoạt nhưng cũng rất bản lĩnh, mang màu sắc rất riêng kiên cường vượt qua giông bão lịch sử và thời đại, nói như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi khó khăn, thử thách vì độc lập dân tộc, vì tự do, vì hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”(1).
Trong bối cảnh mới, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng, hình ảnh cây tre tiếp tục được nâng lên một tầm ý nghĩa mới. Tre không chỉ là biểu tượng của tinh thần chống chọi mà còn đại diện cho nghệ thuật “đấu trí” trong đối ngoại - mềm dẻo nhưng kiên định, linh hoạt nhưng không đánh mất nguyên tắc. Đây cũng chính là tinh thần được nhắc đến trong khái niệm “ngoại giao cây tre”, phản ánh cách Việt Nam ứng xử khôn khéo, cân bằng lợi ích trong một thế giới đầy biến động.
2. Ngoại giao “cây tre Việt Nam” liệu có phải là bản ngoại giao được sao chép?
Có thể nói: Ngoại giao cây tre Việt Nam là di sản đối ngoại nổi bật nhất mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại cho đất nước ta, giúp Việt Nam nâng cao vị thế, cân bằng quan hệ với các cường quốc và bảo vệ lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, ngay sau khi trường phái ngoại giao này được phổ biến, nhiều quan điểm cho rằng: Ngoại giao “cây tre Việt Nam” là bản sao chép “ngoại giao của các nước Thái Lan, Singgapore, Indonesia, Thụy Sỹ...
Trước hết, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, bản sắc ngoại giao cây tre đã được ông cha ta vận dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn. Đó là tinh thần yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu hữu nghị luôn luôn song hành với tinh thần độc lập, tự cường với mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, chủ quyền đất nước.
Trong các triều đại phong kiến, nhà Lý không chỉ ngăn chặn ý đồ xâm lược của Triều Tống mà còn đòi lại vùng đất Quảng Nguyên (Thuận Châu) năm 1079 và sáu huyện, ba động năm 1084 nhờ vào ngoại giao mềm dẻo; Nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông, vẫn kiên trì chính sách ngoại giao linh hoạt với phương Bắc, giữ vững vương triều trong 175 năm; sau khi đại thắng quân Thanh, Ngô Thì Nhậm với tư tưởng “Bang giao hảo thoại” của một nhà ngoại giao lỗi lạc đã chủ động tiến công ngoại giao, ngăn chặn âm mưu báo thù, khiến phong kiến phương Bắc chấp nhận giảng hòa, trả lại bảy châu xứ Hưng Hóa, công nhận Vương triều Tây Sơn.
Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời, từ đây Bộ Ngoại giao được thành lập. Người trở thành Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên trực tiếp đề ra và chỉ đạo thực hiện nhiều chiến lược, sách lược ngoại giao quan trọng vừa bản lĩnh, vừa khéo léo, đồng thời đặt nền móng định hướng cho sự phát triển phong cách ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao quan điểm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, chủ động hòa hoãn với Tưởng Giới Thạch, tập trung chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, sau đó “hòa để tiến”, nhân nhượng với Pháp để kéo dài thời gian hòa hoãn, củng cố lực lượng cho cuộc kháng chiến sau này.
Nhà sử học người Mỹ David Marr khi viết về hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong cuốn sách “Việt Nam: Nhà nước, chiến tranh và cách mạng (1945 - 1946)” đã ghi: “Việt Nam có kỹ năng xử lý các tình huống ngoại giao phức tạp, sẵn sàng nhượng bộ khi cần thiết để đạt được mục tiêu và sẵn sàng điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh thay đổi. Hoạt động đối ngoại của Việt Nam đóng vai trò to lớn đối với kết quả của các cuộc kháng chiến mà Việt Nam đã đi qua - đó là một yếu tố hết sức quan trọng đóng góp vào chiến thắng cuối cùng của người Việt Nam.”(2). Điều đó cho thấy, phong cách ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã được hình thành từ lâu và được vận dụng một cách linh hoạt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Bên cạnh đó, cần thấy rõ sự khác biệt giữa phong cách ngoại giao của Việt Nam với các nước khác trong khu vực và quốc tế. Singapore lựa chọn lối ngoại giao “thực dụng và cân bằng chiến lược” vừa hợp tác, vừa đấu tranh với các nước trong đó nhấn mạnh vào yếu tố giá trị trên cơ sở thực lực kinh tế và đây là đông minh an ninh không chính thức của Mỹ. Indonesia lựa chọn phong cách ngoại giao “tự do và chủ động”, mặc dù chủ trương không tham gia liên minh quân sự nhưng duy trì kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc trong khi hợp tác an ninh sát sao với Mỹ. Thụy Sỹ nổi tiếng với chiến lược ngoại giao trung lập vĩnh viễn, hòa giải và nhấn mạnh yếu tố kinh tế.
Còn về Thái Lan với trường phái “ngoại giao cây sậy” có nét tương đồng với ngoại giao “cây tre Việt Nam” ở sự linh hoạt, mềm dẻo để đạt được lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh sự khác biệt hoàn toàn. Trong lịch sử Thái Lan (nước Xiêm) từng nhiều lần nhượng bộ bằng cách cắt đất đổi lấy hòa bình và để không trở thành thuộc địa của Anh và Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh 1961 -1975, Thái Lan từng là căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ để lực lượng Không quân nước này thực hiện các cuộc không kích trong chiến tranh Việt Nam và hiện nay Thái Lan vẫn là một đồng minh theo hiệp ước với Mỹ...
Chiến lược ngoại giao “cây tre Việt Nam” vừa mềm dẻo, vừa linh hoạt dựa trên nguyên tắc “Bốn không”, cụ thể: (1) Không tham gia liên minh quân sự; (2) Không liên kết nước này để chống nước kia; (3) Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; (4) Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nguyên tắc “bốn không” này kết hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập toàn diện, sâu rộng, trọng tâm là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và nâng cao vị thế trên trường quốc tế đã tạo nên một trường phái ngoại giao rất Việt Nam - ngoại giao cây tre.
Bản sắc ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đã cho thấy sự kiên định về nguyên tắc (gốc vững), phát huy mạnh mẽ về sức mạnh nội tại (thân chắc), linh hoạt về sách lược trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới (cành uyển chuyển). Đồng thời điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể với các chiến lược ngoại giao của các nước trong khu vực và quốc tế.
3. Ngoại giao cây tre đã lỗi thời?
Trên các trang mạng xã hội gần đây cũng xuất hiện nhiều bài viết cho rằng: Ngoại giao cây tre Việt Nam đã lỗi thời, đi ngược với thời đại và không phù hợp với bối cảnh quốc tế hiện nay. Tiêu biểu phải kể đến video của Tiến sĩ Alexander Vuving tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á - Thái Bình Dương (Mỹ) đăng trên mạng internet hồi tháng 01/2024, có đoạn: “Nghĩ rằng là chính sách ngoại giao cây tre thì có thể phát huy tác dụng trong thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh, nhưng bây giờ chúng ta đã bước vào một thời kỳ mới là thời kỳ hậu hậu chiến tranh lạnh mà tôi tạm gọi là cái thời kỳ gọi là tranh chấp Đông - Tây mới. Trong cái thời kỳ này, khi mà cạnh tranh chiến lược với các nước lớn nó trở nên ghê gớm như thế này thì cái cây tre không phải là một giải pháp hữu hiệu, vì mưa to gió lớn tre dễ bị bật gốc”.
Phong cách ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đang thể hiện được tính thích ứng cao trước biến động toàn cầu hiện nay. Giữa những thay đổi chóng mặt của tình hình thế giới và khu vực, trường phái ngoại giao cây tre Việt Nam đang cho thấy những mặt tích cực trong việc linh hoạt chống chịu khủng hoảng, đồng thời khẳng định khả năng tự phục hồi tốt để không bị cuốn vào vòng xoáy đối đầu trực diện giữa các cường quốc lớn.
Đơn cử có thể kể đến sự kiện ngày 02/4/2025, Tổng thống Donald Trump chính thức công bố những thay đổi lớn trong chính sách thương mại của Mỹ, bao gồm việc áp dụng các mức thuế với 180 quốc gia, trong đó áp dụng mức thuế 46% đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đây là mức thuế cao chưa từng có trong quan hệ song phương giữa hai nước. Đứng trước vấn đề này, Trung Quốc cùng rất nhiều nước tuyên bố trả đũa bằng cách đáp trả thuế lên tới 34% đối với tất cả các mặt hàng Mỹ nhập vào Trung Quốc.
Nhưng Việt Nam của chúng ta thì hoàn toàn khác. Tổng Bí thư Tô Lâm đã trực tiếp điện đàm với Tổng thống Mỹ Donald Trump, đưa đến kết quả Việt Nam có thể miễn phí hoàn toàn đối với hàng hóa của Mỹ nhập vào Việt Nam, ngược lại Mỹ đã cắt giảm đáng kể thuế đối ứng từ 46% xuống còn 20% đối với các mặt hàng của Việt Nam. Đặt trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu hàng của Mỹ vào Việt Nam năm 2024 chỉ là 15 tỷ đô, trong khi Việt Nam xuất sang Mỹ là 119 tỷ đô, gấp gần 8 lần. Đây là thành công lớn trong nghệ thuật đàm phán “Cây tre Việt Nam” mà Tổng Bí thư đã vận dụng. Chúng ta biết mềm dẻo đúng lúc và cứng rắn đúng chỗ với mục đích cao nhất là bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trước những nước lớn.
Bên cạnh đó, tính ưu việt của hình thức ngoại giao cây tre còn thể hiện ở việc định vị đúng xu thế thời đại là hòa bình và hợp tác, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.
Trước vấn đề khủng hoảng năng lượng dầu thô tại Iran do các lệnh trừng phạt quốc tế ảnh hưởng bởi cuộc xung đột vũ trang trực tiếp giữa Mỹ và Iran từ cuối tháng 02/2026, nhiều quốc gia rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng. Tuy nhiên với chiến lược ngoại giao mềm mỏng, đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam đã chủ động thiết lập quan hệ và nhập khẩu hơn 80% trữ lượng dầu thô từ Kuwait, sau đó là Nigeria và Brunei. Nhờ vậy, thị trường năng lượng tại Việt Nam bị ảnh hưởng tương đối ít so với các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế.
Nghệ thuật ngoại giao cây tre đang cho thấy sự thích ứng cao của một quốc gia nhưng vẫn giữ được trục cốt lõi là sự bất biến trong nguyên tắc, ngăn chặn nguy cơ chọn bên, nhờ vậy tình hình an ninh quốc gia được giữ vững ổn định.
Nhờ giữ vững nguyên tắc “bốn không” và kiên định đặt mục tiêu độc lập, tự chủ gắn với lợi ích quốc gia lên hàng đầu, trong những năm qua, chúng ta luôn giữ được vị thế và bản lĩnh của mình. Bài học ngoại giao của Ukraine khi lựa chọn Mỹ và Liên minh châu Âu là chỗ dựa nhưng vẫn không đạt được mục đích chính trị với Nga, Campuchia chọn cách “nghiêng hẳn” về phía Trung Quốc trong giải quyết vấn đề biên giới với Thái Lan cho đến khi chiến sự xảy ra chỉ nhận được sự quan ngại từ phía ngoại giao Trung Quốc đã cho thấy sự đúng đắn trong xác định cái “gốc vững” mà Đảng ta luôn kiên định và theo đuổi. Đó là Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là lợi ích quốc gia, độc lập dân tộc dựa trên nguyên tắc “bốn không”. Nói cách khác, chúng ta vừa phát triển, vừa giữ được bản lĩnh của chính mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế với nhiều thách thức hiện nay.
Xét cho cùng, dù bất kỳ trường phái ngoại giao nào, xét về tính hiệu quả của nó đều phải nhìn nhận ở muc đích cuối cùng là có đem lại giá trị tích cực cho xã hội hay cải thiện bộ mặt quốc gia đó hay không. Thực tế cho thấy, việc áp dụng nghệ thuật ngoại giao cây tre đã đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế, chính trị, văn. hóa, xã hội tại Việt Nam.
Trong khi các quốc gia láng giềng là Campuchia và Thái Lan đang loay hoay giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới bằng vũ lực, Indonesia đối mặt với làn sóng biểu tình bạo loạn lan rộng do mâu thuẫn về đặc quyền chính trị và bất bình đẳng xã hội; Liên minh châu Âu đang đứng trước nguy cơ tan rã khi các vấn đề an ninh, đối ngoại và năng lượng không được giải quyết triệt để thì Việt Nam với lối ngoại giao “cây tre Việt Nam” vấn giữ kinh tế phát triển tốt, tăng trưởng GDP đạt 8,02 % trong năm 2025, dự kiến vượt trong năm 2026. Và quan trong nhất đó là tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững ổn định, nhân dân sống hòa bình, hạnh phúc, nước ta thành điểm đến đáng tin cậy cho các đối tác nước ngoài. Vậy nếu nói một trường phái ngoại giao của một quốc gia đã lỗi thời mà vẫn đạt được những kết quả như vậy liệu có chính xác?
3. Ngoại giao cây tre trong bối cảnh mới
Tình hình thế giới hiện nay đang trải qua nhiều biến động sâu sắc với sự gia tăng ảnh hưởng giữa các cường quốc và cục diện đa cực ngày càng phân hóa rõ rệt. Những thay đổi liên tục trong chiến lược của các nước lớn cùng với mâu thuẫn địa chính trị tại các khu vực đã trực tiếp làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và làm nảy sinh các rủi ro, nhất là về an ninh năng lượng. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh của công nghệ bán dẫn và trí tuệ nhân tạo đã đặt ra nhiều thách thức cho chiến lược đối ngoại của từng quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, chúng ta có một nền đối ngoại độc lập, kế thừa văn hóa truyền thống, phát huy bản sắc dân tộc và theo kịp xu thế thời đại. Phong cách ngoại giao “cây tre Việt Nam” giúp Việt Nam vẫn duy trì được quan hệ kinh tế với cả hai đối tác lớn Mỹ - Trung, đồng thời tận dụng cơ hội để thu hút đầu tư và mở rộng xuất khẩu. Đây chính là biểu hiện rõ nét của tư duy “biết thời, biết thế; biết tiến, biết thoái” trong đối ngoại. chính sách đối ngoại của Việt Nam càng thể hiện rõ tính “uyển chuyển như tre”. Việt Nam không đứng về một phía, mà chủ động thích ứng, điều chỉnh chính sách theo từng giai đoạn, từng tình huống cụ thể.
Giữa một thế giới đa cực với những thay đổi chóng mặt, trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” với phương châm “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” không thể giữ nguyên trạng thái bị động mà phải chủ động thay đổi, điều chỉnh sách lược để duy trì tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trước hết cần thay đổi tư duy từ ứng phó sang tiên phong và sáng tạo theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Việt Nam cần chủ động tham gia đóng góp, xây dựng và định hình các luật chơi chung tại các cơ chế đa phương như ASEAN, Liên Hợp Quốc, thay vì chỉ đơn thuần là quốc gia thực thi các cam kết có sẵn.
Trong một thế giới phân cực, Việt Nam phải tuyệt đối kiên định chính sách quốc phòng “4 không” để ngăn chặn nguy cơ bị kéo vào các liên minh quân sự chống nước khác. Tuy nhiên, sự “uyển chuyển” của cành tre cần được thể hiện qua việc hiện thực hóa và làm sâu sắc hơn mạng lưới Đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn. Việc đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ giúp đất nước giải tỏa áp lực “chọn bên” độc tôn, bảo đảm không phụ thuộc hoàn toàn vào bất kỳ một cực quyền lực nào.
Ngoại giao cây tre hiện nay phải chuyển trạng thái mạnh mẽ sang “ngoại giao công nghệ” và “ngoại giao bán dẫn”. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng dịch chuyển, Việt Nam cần chủ động kiến tạo hành lang pháp lý và các cam kết đối ngoại song phương để thu hút dòng vốn đầu tư xanh, thu nhận công nghệ cốt lõi và tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, biến nguồn lực bên ngoài thành động lực phát triển nội sinh vững chắc đến năm 2045.
Song song với nhiệm vụ thay đổi phong cách ngoại giao để phù hợp với tình hình thực tiễn, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn lực lượng hiện nay là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch ngày càng gia tăng hoạt động chống phá thông qua việc xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tư tưởng chống đối, tuyên truyền các luận điệu ngoại giao “cây tre Việt Nam” là “ngoại giao du dây” hoặc bản sao chép đã lỗi thời. Theo đó, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần chỉ rõ: Phong cách ngoại giao cây tre Việt Nam chính là sự đúc kết giữa truyền thống hòa hiếu dân tộc của cha ông, đồng thời kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” như lười của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định.
Tóm lại, trong một thế giới đầy biến động, ngoại giao cây tre Việt Nam vẫn là ngọn cờ dẫn đường đúng đắn giúp đất nước giữ vững chủ quyền và nâng tầm vị thế. Song hành với sự uyển chuyển trong hành động thực tiễn, việc giữ vững trận địa tư tưởng, kiên quyết đập tan mọi luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại mang bản sắc độc đáo này là nhiệm vụ chiến lược, then chốt để bảo vệ chế độ và sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thực hiện: Văn Thôn g- Chi bộ Công an xã Lũng Phìn