Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hành động của mình; bởi, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại, vận động, phát triển và là thế giới quan khoa học…
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh gồm ba bộ phận: Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Hệ thống lý luận này đã chứng minh sức sống trước thử thách của thời gian nhờ có các giá trị nền tảng bền vững. Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội…
Từ những triết lý trên có thể thấy, học thuyết Mác là học thuyết phát triển bởi nó mang bản chất khoa học, cách mạng triệt để nhất. Ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều đổi thay, bản thân các nước tư bản cũng có sự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh mới, nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi. Những hạn chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản, như ô nhiễm môi trường, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn xã hội, khủng hoảng kinh tế, bất bình đẳng xã hội... vẫn diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp ở các nước tư bản.
Với chủ nghĩa biện chứng duy vật, chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa trong lịch sử phát triển của phương pháp biện chứng từ thời cổ đại và được bổ sung bởi những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới từ giữa thế kỷ XIX. Phương pháp biện chứng duy vật dựa trên phép biện chứng duy vật - khoa học về những quy luật vận động và phát triển phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy; là học thuyết tổng quát nhất về sự phát triển.
Ở góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của các hình thái kinh tế - xã hội ấy. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Ví dụ:
Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất: Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật, con người có thể tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống.
Xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu: Nhờ hiểu biết về quy luật phát triển của xã hội, con người có thể xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.
Chỉ ra con đường giải phóng cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và các dân tộc bị áp bức.
Cung cấp hệ thống quan điểm, giá trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.
Về góc độ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đây là đóng góp to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, soi sáng vai trò lịch sử của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa thay thế xã hội tư bản. Sứ mệnh đó bắt nguồn từ chỗ giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến, là một giai cấp cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, có sứ mệnh lịch sử là giải phóng cho giai cấp mình đồng thời giải phóng cho nhân dân lao động và toàn nhân loại, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Tuy nhiên, để thực hiện thành công sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân phải có chính đảng cách mạng chân chính lãnh đạo, đảng cộng sản là đội tiền phong của giai cấp công nhân. Ngày nay, những thay đổi của đội ngũ công nhân về số lượng, chất lượng, cơ cấu, điều kiện sống và trình độ học vấn, nghề nghiệp… không hề làm mất đi bản chất cách mạng, không hề hạ thấp sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại…
Với những giá trị nền tảng và bền vững nêu trên, chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra một lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, luận chứng một cách thuyết phục con đường hiện thực, chủ thể lãnh đạo, lực lượng tiến hành, chiến lược, sách lược… dẫn dắt giai cấp công nhân và quần chúng cách mạng đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội mới không còn bóc lột, áp bức, nô dịch.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, kể từ khi C.Mác và Ph.Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại nước Đức, được V.I.Lênin kế tục và phát triển tại nước Nga, thì đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi, nó không những chỉ ra bản chất bóc lột, phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu nhất tồn tại trong lòng chế độ tư bản, mà còn dự báo chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế - xã hội, để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng 8/1945, các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều bị thất bại vì không có đường lối phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết là phải khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; trong đó, tập trung trước hết vào việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một sự kiện
đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó khẳng định tầm vóc, ý nghĩa, giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Từ những giá trị thực tiễn trên cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp khoa học, nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính, truyền thống lịch sử, tinh hoa văn hóa của dân tộc, thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại, trí tuệ của thời đại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin; là tài sản tinh thần to lớn của dân tộc ta; đã, đang và sẽ mãi là ngọn cờ soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Đối với công cuộc đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng và nhân dân ta tiến hành từ năm 1986, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn. Thuật ngữ và tư tưởng “đổi mới” được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề cập từ sớm trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927); được Người nhắc lại, làm rõ thêm trong nhiều bài viết, bài nói, nổi bật là: “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), “Đời sống mới” (năm 1947), “Dân vận” (năm 1949), đặc biệt trong bản Di chúc thiêng liêng (1965-1969) để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc Người đi xa.
Từ các bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên một hệ thống luận điểm có giá trị nền tảng và định hướng về đổi mới. Trong đó, tư tưởng đổi mới là tư tưởng cách mạng, khoa học trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại, phản ánh và giải quyết những nhu cầu khách quan của thực tiễn đất nước; đạo đức đổi mới là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, Tổ quốc lên trên hết, trước hết, đổi mới vì một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh.
Căn cứ thực tiễn công cuộc đổi mới, cụ thể là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tổng kết thành các bài học kinh nghiệm. Trước hết, đó là “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đặt trong bối cảnh này, công cuộc đổi mới của chúng ta không thể tiếp tục lộ trình theo kiểu “kinh nghiệm chủ nghĩa”, mà nhất thiết phải được một lý luận tiền phong soi sáng. Lý luận tiền phong đó chính là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được toàn Đảng, toàn dân kiên định quán triệt, nhận thức sâu sắc và vận dụng, phát triển sáng tạo.
Với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã giúp chúng ta nhìn rõ bản chất sự vận động của tình hình thế giới. Đó cũng là cơ sở vững chắc cho việc hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình mới, để phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, đưa đất nước vững bước trong quá trình thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Những đề xuất vận dụng, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Hiện nay, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động khó lường, khoa học - công nghệ phát triển nhanh, các thế lực thù địch không từ thủ đoạn nào bôi xấu, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng đang đặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải vừa kiên định, vừa bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vững vàng, không dao động, không thay đổi lập trường, không nhụt chí (2), không nản lòng, vững tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định không phải là bảo thủ, trì trệ, cố chấp mà trên cơ sở hiểu biết về bản chất khoa học, cách mạng, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ sự hiểu biết rằng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh đúng những quy luật khách quan của lịch sử nhân loại, do đó, dự báo đúng khuynh hướng vận động, phát triển của lịch sử loài người. Khi phản ánh đúng những quy luật khách quan của sự vận động lịch sử thì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phát hiện ra những nhân tố mới của lịch sử sẽ được ra đời từ trong lòng xã hội cũ - đó chính là cách mạng. Do vậy, chỉ có thể phản ánh khách quan quy luật của lịch sử mới có thể cho ra đời những nhân tố mới, tiến bộ, cách mạng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có bản chất khoa học, cách mạng là bởi những người sáng lập đã kế thừa toàn bộ tinh hoa trong lịch sử tư duy của nhân loại mà trực tiếp nhất là tư duy triết học của dân tộc Đức; tư duy quản trị xã hội của dân tộc Pháp; tư duy kinh tế của dân tộc Anh; tư duy tinh tế, nhân văn của dân tộc Nga; tư duy linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn của nhân loại cũng như những kinh nghiệm thực tiễn được tổng kết từ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và được trang bị bởi những nguyên tắc phương pháp luận biện chứng khoa học cho việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhận thức thế giới. Đó là các nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử-cụ thể và thực tiễn.
Hơn nữa, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không có mục
tiêu nào khác ngoài mục tiêu giải phóng con người. Như trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” (3). Thực tế lịch sử 174 năm tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng tỏ điều đó. Chính vì vậy, chúng ta có căn cứ khoa học, thực tiễn, lịch sử để vững tin vào bản chất, linh hồn sống, những nguyên lý lý luận cũng như mục tiêu giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kiên định những giá trị bền vững, những nguyên lý cơ bản, mục tiêu giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để giải phóng con người một cách triệt để trước hết phải thực hiện giải phóng dân tộc. Dân tộc có độc lập thì con người của dân tộc đó mới có tự do, có cơ sở để được giải phóng triệt để. Nhưng độc lập dân tộc chỉ đầy đủ, trọn vẹn, triệt để khi đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế lịch sử phát triển của nhân loại nói chung, chủ nghĩa xã hội hiện thực nói riêng đã chứng tỏ chỉ có chủ nghĩa xã hội là mô hình hiện thực nhất để giải phóng con người trên thực tế. Tất nhiên, mô hình này khác với mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể của Liên Xô và Đông Âu. Do vậy, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn liền với kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải dựa trên cơ sở của chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để bổ sung, phát triển sáng tạo những luận điểm cụ thể nào đó cho phù hợp với thực tiễn. V.I.Lênin - người đã xuất sắc phát triển chủ nghĩa Mác đã từng khẳng định “Chính vì chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động, chính vì thế nó không thể không phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội” (4). Nghĩa là điều kiện sinh hoạt xã hội, thực tiễn, khoa học có những đổi thay thì những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng cần được bổ sung, phát triển.
Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã có rất nhiều ví dụ cho sự phát triển sáng tạo này. V.I.Lênin đã có nhiều đóng góp trong việc đưa ra định nghĩa mới về phạm trù vật chất; phạm trù giai cấp; đấu tranh giai cấp; bổ sung luận điểm về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và logic học; đấu tranh chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán; chống lại các loại xét lại, cơ hội, phái Dân túy Nga, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác, v.v.. V.I.Lênin là người đã bổ sung những nhận thức mới về chủ nghĩa đế quốc như một giai đoạn cao hơn của chủ nghĩa tư bản và cũng chính ông là người đã vận dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới (NEP) vào điều kiện thực tiễn nước Nga Xô-viết non trẻ. V.I.Lênin đồng thời là người đưa ra học thuyết về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản,v.v..
Xuất phát từ tình hình thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những phát triển cụ thể đối với nhiều luận điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người cho rằng, về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xuất phát từ thực tiễn châu Âu chỉ đề cập giai cấp công nhân, liên minh công - nông như là hạt nhân của khối liên minh đại đoàn kết dân tộc, thì Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam nêu khẩu hiệu liên minh công - nông - trí. Bởi lẽ, trí thức ở Việt Nam là con em công nhân, nông dân, người lao động. Do vậy, liên minh công - nông - trí là liên minh tất nhiên, khách quan, vốn có của cách mạng Việt Nam. Với V.I.Lênin, Đảng Cộng sản là “lương tâm, trí tuệ của thời đại” thì với Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức là văn minh” và người đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng về đạo đức. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bổ sung, phát triển hết sức sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Đảng đã đề ra mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với tám đặc trưng, trong đó nội dung đầu tiên “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa là đặc trưng vừa là mục đích của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đề ra tám phương hướng lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng mười mối quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Về kinh tế, Đảng coi kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế,v.v.. Về chính trị, Đảng coi xây dựng Đảng về đạo đức là bộ phận cấu thành quan trọng của xây dựng Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là then chốt; coi xây dựng Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là hình thức tối ưu thực hiện quyền lực của nhân dân. Tất cả những điều này là kết quả của việc bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam vào điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin cần kiên định, không xa rời bản chất cũng như những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành bản lĩnh, không lay chuyển trước mọi tình huống. Kiên định khác với bảo thủ, trì trệ, cố chấp, là cơ sở, nền tảng, điều kiện để bổ sung, phát triển sáng tạo, và ngược lại, bổ sung, phát triển sáng tạo khoa học sẽ góp phần củng cố niềm tin, sự hiểu biết, lập trường, thái độ để tăng cường bản lĩnh, củng cố sự kiên định. Nếu không kiên định thì khi bổ sung, phát triển sáng tạo dễ chệch hướng, mất lập trường, dẫn tới bổ sung, phát triển không có nguyên tắc, tùy tiện, không khoa học, rơi vào xét lại, dẫn tới sai lầm, thất bại.
Trong các Đại hội thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề ra nhiệm vụ “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam” (5). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục nhấn mạnh “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn” (6). Nghĩa là Đảng luôn luôn nắm vững, xử lý tốt quan hệ giữa kiên định và bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Đảng không rơi vào bảo thủ, trì trệ, xét lại.
Bổ sung, phát triển sáng tạo đồng thời tạo ra những kết quả khoa học mới để tiếp tục củng cố, khẳng định, làm giàu thêm bản chất, linh hồn sống, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những bổ sung, phát triển khoa học phù hợp thực tiễn mới.
3. Giải pháp cần thực hiện:
3.1. Tăng cường học tập, nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay, nhằm:
- Nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác, cuộc sống.
- Góp phần giữ gìn nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cần học tập:
- Học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
- Tập trung nghiên cứu những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn công tác, cuộc sống.
- Liên hệ, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết những vấn đề cụ thể.
Hình thức:
- Tổ chức các lớp học tập, nghiên cứu, tập huấn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Tự học tập, nghiên cứu thông qua sách báo, tài liệu, internet.
- Tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một số giải pháp để tăng cường học tập, nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Đổi mới nội dung, phương pháp học tập, nghiên cứu.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục.
- Tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập, nghiên cứu.
- Phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc tổ chức học tập, nghiên cứu.
Học tập, nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Mỗi người cần ý thức rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác, cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
3.2. Tuyên truyền, giáo dục về giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
a) Nâng cao nhận thức:
- Tự học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng.
- Nâng cao trình độ hiểu biết về tình hình đất nước, thế giới: Đọc sách báo, tài liệu, internet về tình hình đất nước, thế giới. Xem tin tức, thời sự trên báo chí, truyền hình, internet. Lắng nghe các chương trình phát thanh về tình hình đất nước, thế giới. Tham gia các diễn đàn, mạng xã hội để trao đổi thông tin về tình hình đất nước, thế giới. Tham gia các hoạt động của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam.Tham gia các hoạt động tình nguyện, thiện nguyện…
- Rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của người đảng viên.
b) Tuyên truyền bằng lời nói và hành động:
- Lời nói:
+ Giải thích, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân:
Hình thức trực tiếp: Tham gia các buổi tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách do chi bộ, tổ chức đảng tổ chức. Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhân dân để giải thích, tuyên truyền chủ trương, chính sách. Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh để tuyên truyền chủ trương, chính sách.
Hình thức gián tiếp: Tham gia viết bài, sáng tác văn học, nghệ thuật để tuyên truyền chủ trương, chính sách. Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao để tuyên truyền chủ trương, chính sách. Sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền chủ trương, chính sách.
Truyền bá thông tin chính xác:
Chia sẻ những thông tin chính thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng trên các phương tiện truyền thông.
Giải thích, tuyên truyền cho nhân dân hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng.
Ngoài ra, bản thân mỗi đảng viên cũng cần:
+ Luôn gương mẫu trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
+ Giữ gìn sự trong sáng của Đảng, Nhà nước.
+ Liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.
Là một đảng viên, tôi ý thức được trách nhiệm của mình trong việc phản bác những luận điệu xuyên tạc hiện nay. Tôi sẽ cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ này để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khuyến khích nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước.
Tận dụng các phương tiện truyền thông: Sử dụng các phương tiện truyền thông như báo chí, internet, mạng xã hội để tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tham gia các diễn đàn, hội thảo để trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan đến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng.
Phối hợp với các tổ chức đoàn thể: Phối hợp với các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam để tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân.
Tuyên truyền trong gia đình: Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho các thành viên trong gia đình. Giáo dục con cái về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuyên truyền là nhiệm vụ của mỗi đảng viên. Mỗi đảng viên cần ý thức trách nhiệm của mình, tích cực tuyên truyền bằng lời nói và hành động, góp phần giữ gìn nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
c) Phản bác những luận điểm sai trái, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng.
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng nhiều hình thức tinh vi để tuyên truyền, xuyên tạc những luận điểm sai trái về nhiều vấn đề, đặc biệt là:
- Về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn.
+ Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã xa rời lý tưởng, lợi ích của nhân dân.
+ Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh: Cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp với thời đại.
- Về đường lối, chủ trương của Đảng:
+ Xuyên tạc đường lối đổi mới: Cho rằng đường lối đổi mới là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
+ Phủ nhận những thành tựu của đất nước: Cho rằng Việt Nam không đạt được thành tựu gì trong công cuộc đổi mới.
+ Cổ súy cho đa nguyên, đa đảng: Cho rằng Việt Nam cần phải thực hiện đa nguyên, đa đảng để phát triển.
- Về tình hình đất nước:
+ Cổ súy cho những quan điểm tiêu cực: Cho rằng Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, bất ổn.
+ Xuyên tạc về các vấn đề kinh tế, xã hội: Cho rằng Việt Nam đang có nguy cơ khủng hoảng kinh tế, xã hội.
+ Kích động biểu tình, bạo loạn: Gây bất ổn cho an ninh trật tự.
- Về quan hệ quốc tế:
+ Xuyên tạc về chính sách đối ngoại của Việt Nam: Cho rằng Việt Nam đang lệ thuộc vào một số nước lớn.
+ Cổ súy cho quan điểm thù địch: Kích động sự nghi ngờ, bất hòa giữa Việt Nam với các nước khác.
+ Phá hoại mối quan hệ đoàn kết quốc tế: Gây chia rẽ, bất ổn trong khu vực và trên thế giới.
Phản bác bằng lập luận chặt chẽ, logic:
- Sử dụng những dẫn chứng cụ thể, chính xác:
+ Sử dụng những dẫn chứng từ các tài liệu chính thống của Đảng, Nhà nước.
+ Sử dụng những dẫn chứng từ thực tiễn lịch sử, thực tiễn cuộc sống.
+ Phản bác một cách bình tĩnh, thanh lịch:
Tránh sử dụng những ngôn từ xúc phạm, thiếu văn hóa.
Tập trung vào việc phân tích, đánh giá những luận điểm xuyên tạc.
+ Sử dụng các phương pháp logic:
Sử dụng các phương pháp logic như lập luận quy nạp, lập luận diễn dịch,
lập luận tương đồng để phản bác những luận điểm xuyên tạc.
Chỉ ra những mâu thuẫn, phi lý trong những luận điểm xuyên tạc.
- Phê phán những quan điểm sai trái, thù địch.
- Nâng cao trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên.
- Gắn việc học tập, nghiên cứu với thực tiễn, giải quyết các vấn đề của đất nước.
Ví dụ: Phản bác luận điệu Đất nước ta đnag đổi mới theo hướng tư bản chủ nghĩa, ta cần chỉ ra rằng:
Về kinh tế:
+ Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Nền kinh tế đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
+ Thu hút đầu tư trong và ngoài nước: Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
+ Cải thiện môi trường kinh doanh: Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp.
Về chính trị:
+ Tăng cường dân chủ: Mọi người dân đều có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, bày tỏ ý kiến của mình về các vấn đề của đất nước.
+ Cải cách hành chính: Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, giảm bớt phiền hà cho người dân.
+ Chống tham nhũng: Đây là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần xây dựng một nhà nước liêm chính, phục vụ nhân dân.
Văn hóa - xã hội:
- Phát triển giáo dục và đào tạo: Nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
- Chăm sóc sức khỏe: Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
- Bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ cấp bách, góp phần phát triển bền vững.
Đối ngoại:
- Mở rộng quan hệ đối ngoại: Việt Nam đã có quan hệ với hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế: Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Đổi mới là một quá trình lâu dài, phức tạp và đầy thử thách. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đất nước ta sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong tương lai.
Ngoài ra, còn có một số xu hướng đổi mới khác như:
+ Phát triển khoa học và công nghệ: Đây là một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội.
+ Xây dựng xã hội học tập: Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng cho người dân, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
+ Phát triển văn hóa và con người: Nâng cao giá trị tinh thần cho con người, xây dựng một xã hội văn minh, giàu đẹp.
Đổi mới theo hướng tư bản là: Chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa sang một nền kinh tế thị trường, với sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân.
+ Tư nhân hóa: Chuyển giao quyền sở hữu và quản lý các doanh nghiệp nhà nước sang khu vực tư nhân.
+ Thị trường hóa: Mở rộng thị trường và tăng cường cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế.
+ Tự do hóa: Giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế.
Đổi mới theo hướng tư bản có thể mang lại một số lợi ích như:
+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế thị trường thường có hiệu quả hơn trong việc phân bổ nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
+ Tăng cường cạnh tranh: Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời giảm giá thành cho người tiêu dùng.
+ Tạo ra việc làm: Khu vực tư nhân thường tạo ra nhiều việc làm hơn khu vực Nhà nước.
Tuy nhiên, đổi mới theo hướng tư bản cũng có thể dẫn đến một số hạn chế như:
+ Tăng bất bình đẳng: Nền kinh tế thị trường có thể dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập và tài sản.
+ Thất nghiệp: Việc tư nhân hóa và thị trường hóa có thể dẫn đến thất nghiệp cho người lao động trong khu vực nhà nước.
+ Tác động tiêu cực đến môi trường: Nền kinh tế thị trường có thể dẫn đến khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường.
Việt Nam đổi mới theo hướng tư bản một phần từ năm 1986, chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa sang một nền kinh tế thị trường nhằm phát triển những mặt lợi ích của đổi mới theo hướng tư bản nhưng vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, mặt hạn chế không tồn tại: người dân luôn đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau; việc làm ổn định, đời sống ngày một ấm no;…
Đổi mới theo hướng tư bản là một quá trình phức tạp và có thể mang lại cả lợi ích và hạn chế. Việc đổi mới hay không là một quyết định quan trọng mà mỗi quốc gia cần phải cân nhắc kỹ lưỡng.
Tóm lại, đất nước ta đang đổi mới theo hướng toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực. Mục tiêu của đổi mới là xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc theo hướng xã hội chủ nghĩa. Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hãy chung tay góp sức bảo vệ, khẳng định giá trị, sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, mang tính chiến lược và lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng vững chắc, là ngọn cờ dẫn đường cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những giá trị khoa học, cách mạng và thời đại của hệ tư tưởng đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa sâu sắc và có sức sống bền vững.
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao nhận thức chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng, chủ động nhận diện và đấu tranh với các thông tin sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng cũng như trong đời sống xã hội. Đồng thời, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị; tăng cường nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển của thời đại
Thực hiện: Trương Thị Vân - Chi bộ trường THCS Sủng Trái